Người Pháp có câu: “Dis moi qui es ton ami, je te dirai qui tu es” có thể dịch là “Hãy nói cho tôi biết bạn của quí vị là ai, tôi sẽ cho biết quí vị là người như thế nào “. Có một Nhà sư ở dãy núi Hy Mã Lạp Sơn, mùa mưa ông về thành phố để xin muối và giấm. Dân làng rất cảm phục phong cách oai nghi của ông nên phát tâm cúng dường cho ông rất nhiều, thậm chí họ còn xây chỗ ở cho ông và thỉnh ông lưu lại làm thầy của họ. Ông đồng ý và ở lại. Sau đó, một vị sư khác đến thuyết giảng về Thường (sự vĩnh cửu). Người ta rất thích ông và mời ông làm thầy họ. Rồi một vị sư khác đến thuyết giảng về Đoạn (chủ nghĩa hư vô). Lần này, cư dân cũng ngưỡng mộ và tôn ông làm thầy. Theo thời gian, rất nhiều nhà sư đến nữa. Người ta tôn kính những người mới đến, bỏ rơi vị thầy đương thời của họ và nhận người mới là vị thầy “có lẽ hợp thời hơn” của họ. Chứng kiến tất cả cảnh này, vị sư đầu tiên rất thất vọng, ông ta rời thành phố và trở về núi. Ông đến thăm sư phụ của mình và bày tỏ sự thất vọng tràn trề của mình về dân chúng. Sư phụ ông nói: “Người khôn ngoan sẽ không bao giờ ở lại nơi mà con người không thể phân biệt phải trái. Lúc ấy, con mong muốn gì vậy?” Người có trí huệ tìm cầu, thân cận thiện tri thức. Những kẻ không phân biệt chánh tà thường chỉ chạy theo thời thượng mà thôi.
0 Comments
Tôi lớn lên với sự thích thú phim ảnh Kung fu của Trung Quốc. Đến nay, vẫn còn một vài đài chuyên chiếu loại phim này. Cốt chuyện thường đơn giản. Tại một làng nhỏ những vị võ sư đến mở trường dạy, một ngày nọ, đám quân gian xuất hiện, đập phá võ đường, giết chết giáo chủ và gây thương tích trầm trọng cho đệ tử. Thoát chết, người đệ tử thề sẽ trả thù, săn sóc vết thương, và chí tâm rèn luyện Kung fu. Sau đó anh ta rời nơi ẩn náu, tìm đến đám quân gian, phá hủy và tiêu diệt bọn chúng. Sự hấp dẫn của loại phim này nằm trong cốt truyện đơn giản của nó. Lúc xem phim, tôi âm thầm chấp nhận sự trả thù: lẽ đương nhiên thiện sẽ thắng ác, mặc dù kẻ xấu thường phải chịu những cái chết rất đau đớn thê thảm. Theo trực giác, thông thường người ta phải trả nghiệp nếu làm ác và/hoặc tạo nghiệp. Đó là luật nhân quả: gây đau đớn và khổ sở thì phải chịu đau đớn và khổ sở, phá hủy thì sẽ bị tiêu diệt. Bây giờ, đã trở thành một người xuất gia, tôi gặp rất nhiều người đến với tôi bởi vì họ có bệnh mà không chữa được. Đối với họ hình như chùa là nơi cuối cùng họ tìm đến khi không còn hy vọng nào khác nữa. Nhân cơ hội, tôi muốn nói về luật nhân quả. Tôi cố gắng giải thích cho họ rằng, theo quan điểm Phật giáo, bệnh hoạn là nghiệp quả do những hành vi tội lỗi trong quá khứ. Ví dụ, giết chết một con thỏ thì quí vị phải trải qua nỗi đau đớn và khốn khổ tương đương mà quí vị đã gây ra cho con vật vô tội đó. Lý thuyết có vẻ không công bằng với quí vị ư? Có nhớ những cốt chuyện Kung Fu Trung Hoa không? Sát sinh và phá hoại thì đương nhiên rằng quí vị cũng phải chịu sự chết chóc và tàn phá tương tự! Ba khía cạnh liên quan đến sự chữa bệnh: 1. Quan niệm Tây Y (chữa bệnh1): Y học Tây phương chuyên môn về giải phẫu và loại bỏ những phần thân thể bị hư hoại. Họ rất giỏi về việc điều trị triệu chứng của bệnh. Nhưng dù cho khả năng định bịnh và ngăn ngừa nguyên nhân của vấn đề giỏi đến bao nhiêu đi nữa, những cách giải quyết này vẫn còn hạn chế. Đó là lý do tại sao khi kết hợp với y học Đông phương, hiệu quả chữa bệnh tăng lên đáng kể. 2. Quan niệm Đông Y (chữa bệnh2): Chữa bệnh có một quan điểm hệ thống sâu xa hơn (thêm một axis trục nữa, “nên thành lũy thừa hai”). Y học Đông phương xem bệnh hoạn như là một sự mất cân bằng của cơ thể. Trong khi nó có thể không hay bằng Tây y trong việc điều trị triệu chứng của bộ phận. Đông Y thường có hiệu quả hơn trong sự phòng ngừa và chữa bệnh toàn diện lâu dài (trị cả hệ thống). Ví dụ, khi tham gia vào một trận chiến, chúng ta không những có mặt ở ngoài chiến trường mà còn có bộ chỉ huy? Nếu chúng ta chỉ tập trung vào mặt trận không thôi, chúng ta có thể tin rằng đối phương sẽ còn bày keo khác. Hoặc, có thể coi như chúng ta thắng trận, nhưng sự thật là, đối phương chỉ là đơn giản thay đổi chiến thuật, chờ cơ hội để thắng trận đánh lớn hơn. Một khía cạnh thâm sâu hơn của y học Đông phương là khái niệm về Khí: Khí là luồng sinh khí lưu thông qua các hệ thống kinh mạch trong cơ thể chúng ta. Bệnh gây ra do bởi Khí đó bị nghẽn. Đây là lý do tại sao người ta có thể được chữa lành bệnh bằng cách đả thông sự tắc nghẽn này nhờ vào dược thảo, châm cứu, bấm huyệt, hoặc tập thể dục. Mặc dầu phối hợp các phương pháp Đông Y và Tây Y đã đem lại lợi thế rất lớn lao, nó vẫn không giải quyết được những trường hợp bệnh tâm thần. 3. Quan niệm Phật giáo (chữa bệnh3): Đó là do không phương pháp nào có thể giải quyết được tận gốc rễ của vấn đề: vẫn đang còn bị mắc kẹt vào những thể dạng và triệu chứng của bệnh. Nhiều thầy thuốc không biết rằng bệnh là do ma quỷ và thần linh (thế giới âm) tạo. Những thực thể này xâm nhập vào cơ thể chúng ta, làm cho sự lưu chuyển của khí Khí bị nghẽn, và từ đó biểu hiện ra sự suy thoái của các bộ phận trong cơ thể. Nói cách khác, cắt bỏ các phần cơ thể bịnh hoạn hoặc đả thông các mạch Khí một mình không đủ để giải quyết được nguồn gốc của vấn đề. Khi Đại Hòa Thượng Tuyên Hóa còn sống, Ngài có thể giúp ta chữa bệnh bằng cách đuổi những con ma quỷ và thần linh đi. Những người bị bệnh nan y đã được chữa lành nhờ sự giúp đỡ của Ngài. Bà ngoại tôi cũng đã được Ngài chữa lành sau khi các bác sĩ Tây phương và Đông phương đều đã bó tay. Đó là lý do tại sao, khi Hòa Thượng Tuyên Hóa vẫn còn trên thế gian này, nhiều người đã tìm đến Ngài xin giúp đỡ. Lúc lìa trần, cơ thể ông đầy dẫy bệnh hoạn và ông đau đớn tột cùng. Có lẽ người ta đã không biết rằng khi ông đồng ý giúp đỡ, trên cơ bản là ông đã can thiệp vào công việc của họ và do đó ông phải chết thay cho họ. Nói cho cùng thì một người nào đó phải chết hay phải chịu đựng đau khổ để cho một món nghiệp nợ được giải quyết! Ở mức độ nào, những điều này liên quan đến việc chữa lành bệnh?
Mặt khác, có rất nhiều người không tin vào ma quỷ và Thần linh. Họ không chịu thử nó, ngay cả phải trả giá bằng chính sinh mạng mình và/hoặc phải cam chịu sự đau đớn và khổ sở. Có lẽ họ quá cố chấp vào việc tiếp tục gây đau đớn và khổ sở cho người thân của mình trong việc giải quyết các khoản nợ trong quá khứ. Quán Thế Âm Bồ Tát là đấng giác ngộ tượng trưng cho Đại Từ Bi. Ngài dùng thần thông để cứu chúng sinh khắp mười phương: dùng Thiên nhĩ để lắng nghe các lời cầu cứu rồi dùng thần túc thông biến hóa đi khắp mọi nơi trong Pháp Giới để đáp ứng những lời xin cầu đó. Chúng sinh trong cõi Ta Bà có mối quan hệ rất lớn với Ngài. Thế gian đã lưu truyền lại rất nhiều điều linh ứng của Ngài qua những hiệu quả cứu độ những người bị hoạn nạn hay đau khổ. Đau khổ có nhiều dạng. Tuy nhiên, đau khổ có thể được chia ra tám loại:
Tại sao? Đó là bởi vì vị Bồ Tát này đã thấu hiểu đau khổ là gì. Ngài hiểu sâu sắc tất cả những đau khổ vì chính Ngài đã từng trãi qua. Trong quá trình tu hành, Ngài đã chấm dứt tất cả các đau khổ của mình và rồi giúp đỡ người khác giải quyết đau khổ của họ. Đó là mục đích và cũng là đại bi nguyện của Ngài: chấm dứt đau khổ cho chúng sinh. Những người mang trọng ơn với Ngài, tôi có một đề nghị: Hãy theo bước chân Ngài, chấm dứt khổ đau của chính mình và cố gắng kết thúc đau khổ cho những người quanh ta. Những người mới tham dự các buổi giảng kinh của chúng tôi thường hỏi: “Sự khác biệt giữa Phật giáoTiểu thừa và Phật giáo Đại thừa là gì?”
Phật giáo nói chung là sự phát triển trí huệ thông qua sự lựa chọn cách sống. Người tu theo Tiểu Thừa nhận thức sự đau khổ của RIÊNG họ và chọn chấm dứt nó bằng cách phát triển trí huệ của Thánh nhân (được gọi là Tứ Quả A La Hán). Ngược lại, người tu theo Đại thừa cũng nhận thấy rằng cuộc đời đầy đau khổ nhưng quyết định kết thúc nó bằng cách phát triển trí huệ để chấm dứt đau khổ cho TẤT CẢ chúng sinh. Nói cách khác, trí huệ Tiểu thừa eo hẹp hơn so với trí huệ Đại Thừa. Tư tưởng Đại thừa được dựa trên bốn tâm vô lượng của từ, bi, hỷ và xả. Nhân cơ hội này, tôi nói một chút vào tâm vô lượng đầu tiên: từ. Trước và trên hết, chúng ta bắt đầu với sự phát triển tâm từ. Từ bi trong Phật giáo Trong Phật giáo Đại thừa, từ bi được gọi là từ bi vô điều kiện (Vô Duyên Từ), 無緣慈 tiếng Trung Hoa. Từ bi là cho niềm vui, vô điều kiện có nghĩa là chúng ta không bị ràng buột bởi một điều kiện gì hoặc không có quan hệ với những người mà chúng ta cho. Làm thế nào để chúng ta tạo ra mối quan hệ hoặc điều kiện với người khác? Bằng cách cho họ hoặc nhận từ họ một cái gì đó. Tại sao gọi đó là quan hệ hay điều kiện? Suy nghĩ đi, khi quí vị cho người ta một cái gì, như hối lộ chẳng hạn, thì tự nhiên người ta thiên vị quí vị hơn. Nhận từ người khác thì sao? Nó có tác dụng tương tự, nhưng ngược chiều lại, người nhận cảm thấy có bổn phận phải trả lại. Ngoài ra, nếu quí vị cũng giống như hầu hết những người cho, quí vị sẽ la cà quanh quẩn để cho người ta công khai ghi nhận sự hào phóng của mình để rồi quí vị có thể ngụp lặn trong sự ngưỡng mộ và tôn thờ của họ. Đại thừa nhấn mạnh từ bi không điều kiện vì nó khó khăn hơn khi thực hành lòng nhân ái đối với những người mà chúng ta có rất ít hoặc không có quan hệ với họ. Đặc điểm nổi bật của Từ bi Tại sao Phật tử chúng ta bắt đầu với cho niềm vui? Tôi tóm tắc một vài lý do:
Cuối cùng, đừng quên tính chất không giới hạn của từ bi. Tại sao không giới hạn? Bởi vì:
Tháng này là tháng của Lễ Tạ Ơn ở Hoa Kỳ. Đây là lúc mà hầu như tất cả công dân Mỹ, nhất là người di dân, cùng nhau ăn mừng và bày tỏ lòng biết ơn đối với những điều tốt đẹp họ đã được ban cho. Là một người thuộc thế hệ di dân đầu tiên và xuất gia, tôi cũng muốn bày tỏ sự biết ơn đến:
Những Đức Phật thường bị quên lãng Tất cả chư Phật đều có lòng đại từ đại bi muốn cứu độ chúng sanh nhưng hoặc vì chúng ta thiếu phước duyên không biết đến Phật hoặc là biết rồi mà lại quên lãng đi cho nên không hưởng được sự gia hộ của quí ngài. Đây là một điều rất đáng tiếc. Tôi muốn nói đến Đức Phật Akshobya hay thường được gọi là Phật Dược Sư của Lưu Ly Đông Phương Tịnh Độ. Khi nói tu Tịnh Độ, người ta thường hiểu đó là niệm hồng danh Phật A Di Đà để được vãng sinh Tây Phương Cực Lạc. Nhiều người không nhận ra rằng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng còn truyền Pháp Tịnh Độ khác nữa – pháp Dược Sư. Tu pháp Dược Sư đó thì quí vị có thể được vãng sinh về Tịnh Độ: Đông Phương Tịnh Độ của Ngài hay Tây Phương Tịnh Độ của A Di Đà (tùy theo tâm nguyện của mình). Đức Phật Thích Ca Mâu Ni không những là vị thầy tối cao của trời người mà còn là đại từ bi phụ. Ngài đặc biệt lưu tâm giúp chúng sinh trong thời kỳ Tượng pháp và Mạt pháp phước mỏng nghiệp dầy. Cuộc sống của cá nhân cũng như của thế giới ngày một trở nên khắc nghiệt. Tuy chúng ta có nhiều thiện duyên với đức Phật A Di Đà nhưng cho đến khi chúng ta vãng sanh Tịnh Độ, làm thế nào để chúng ta giải quyết các vấn đề đời sống hiện tại của mình, như bệnh tật, thiên tai, cầu một đứa con trai hay một đứa con gái, hay cầu giàu có và sức khỏe, v.v… ? Đừng lo sợ! Phật Dược Sư ở đây để giúp tiêu trừ bệnh tật, kéo dài cuộc sống, chế ngự thiên tai và tăng phước lành cho chúng ta; đó là bổn nguyện của ngài. Kể từ khi bắt đầu tu Pháp Dược Sư, chúng tôi đã khá may mắn – nhiều đệ tử của chúng tôi nhận được cảm ứng khá nhanh chóng. Tu luyện để giúp người thân Tôi có một đệ tử, tên là W, ông và vợ của ông là chuyên gia trí thức trong nhiều thập niên. Là một kỹ sư thiết kế chính cho một công ty lớn có tầm hoạt động quốc tế, ông W phải làm việc rất căng thẳng. Để giữ gìn sức khỏe, ông W đã luyện tập yoga trong nhiều năm. Cách đây một năm, ông W quyết định tham dự lớp Thiền của chúng tôi, lớp đó bắt đầu vào tháng Hai. Trùng hợp vào lúc chúng tôi bắt đầu giảng Kinh Dược Sư vào buổi chiều. Ông W đã tiến bộ rất nhanh. Từ trình độ không có định lực, ông đã nhanh chóng đạt đến nhị thiền chỉ trong vòng vài tháng. Sau đó ông quyết định quy y Tam Bảo và thọ ngũ giới. Theo thủ tục, ông phải điền vào một mẫu đơn. Khi được hỏi tại sao ông muốn quy y, câu trả lời của ông W không phải là những mục tiêu đại khái như đạt được giác ngộ hoặc để cứu độ thế giới, mà mục tiêu duy nhất của ông trong sự tu luyện này là để khai mở trí huệ mình và từ đó có thể giúp hai người con trai của ông. Lần thứ hai đến dự khóa tu, ông W bày tỏ quan ngại về cậu con trai lớn của mình, B có ý định gia nhập thủy quân lục chiến vào mùa hè [2008] để tham dự cuộc chiến tại Iraq. Ông W và vợ ông đã không biết làm thế nào để can ngăn B đừng đi. Đến khi biết về Pháp Dược Sư, ông W vui mừng nhận ra rằng Pháp nầy có thể tiêu diệt các thảm họa chiến tranh. Do đó, ông ta quyết định thỉnh một bài vị Dược Sư cho B. Chỉ một thời gian rất ngắn sau đó, ông W đến gặp tôi và nói rằng B đã chắc chắn quyết định đi Iraq: ” Nó [B] cương quyết (gia nhập quân đội). Con không nghĩ nó [B] làm vậy để trêu tức chúng con [ông W và vợ]. Thầy làm ơn nói chuyện khuyên nó?” Tôi đồng ý thử, mặc dù tôi thực sự không mong là sẽ có được một kết quả bởi vì dường như đã quá muộn. Chàng thanh niên này rất thông minh lại có tánh cương quyết nên khó thể thuyết phục anh ta thay đổi quyết định mà anh đã toan tính trong mấy năm trời. Cuộc đối thoại Một tuần sau đó, B đến, như đã sắp xếp, vào một buổi chiều thứ Sáu. Sau đây là đoạn tường thuật ngắn về cuộc gặp gỡ của chúng tôi. B nhấn chuông và xuất hiện với một tâm trạng thoải mái. Tôi: Rất vui gặp lại con. B: Cảm ơn thầy đã cho con gặp. Tôi: Ba năm trước, khi thầy gặp con [khi đó con đang học lớp 12], tóc của con ngắn hơn. B: Lâu như vậy sao? Tôi: Thầy có thể giúp gì cho con đây? B: Cha mẹ con khuyên con cần nói chuyện với thầy, nhưng thật ra đó không phải chỉ là ý kiến của họ thôi mà con cũng muốn gặp thầy. Cha mẹ B đã nhờ em trai tôi, một trong những giáo sư của B ở trường đại học, thử khuyên nó rồi. Tôi: Ồ? B: Đây không phải chỉ là ý kiến của họ mà thôi. Tôi: Tại sao? B: Con nhận thấy rằng ngay khi bố mẹ con bắt đầu nghiên cứu Phật Pháp với Thầy, họ đã thay đổi rất nhanh. Tôi: Trở nên tốt hơn, thầy hy vọng? B: Chúng con hòa thuận với nhau hơn nhiều. Thầy đừng hiểu lầm ý con. Con rất kính trọng cha mẹ con. Con ngưỡng mộ sự thành công của họ về chuyên môn cũng như về tài chính. Nhưng con nghĩ nhờ Phật phát mà họ hạnh phúc hơn. Tôi: Họ đang lo lắng cho con, nhất là là về dự định tương lai của con. Hiện giờ con đang học đại học phải không? B: Vâng, nhưng con đã bỏ học rồi. Thật ra chỉ vì con không kính nể các vị giáo sư của mình được. Tôi: Thầy không đổ lỗi con. Ngày nay, thật khó mà tìm được một giáo sư Đại học tốt, vừa có cả khả năng trí tuệ và vừa có cả định lực. [B đã đạt Sơ thiền trước rồi - cả hai cha mẹ bắt đầu ở số không: họ không có đủ sức mạnh tinh thần để tạo ra một ấn tượng tốt đẹp ở B, một người có ý chí mạnh mẽ, cương quyết]. B: Con không muốn hòa đồng. Con chỉ thấy mình không thích hợp với lối sống như thế. Tôi: Nhưng con vẫn còn trẻ. Đôi khi người ta phải trả một cái giá trước khi cơ hội đến với họ. Con sẽ nghĩ khác khi con có một gia đình phải lo lắng và người thân phải chăm sóc. B: Có lẽ là như vậy, con chắc chắn rằng có nhiều cách để đóng góp mà không ảnh hưởng đến bản thân mình. Tôi: Thầy hy vọng rằng con sẽ tìm được hướng đi cho mình. B: Con cũng vậy. Con vẫn còn có thì giờ. Tôi: Thầy nghe con sắp đi Iraq chiến đấu. Đó có phải là phục vụ cho tổ quốc không? B: Nó khác nhau mà. Tôi: Khác thế nào vậy? B: Đó là điều phải làm trước khi con có thể làm bất cứ gì khác. Tôi: Con có thể giải thích cho thầy lý do của con? B: Con đã suy nghĩ nhiều và kỹ luỡng về vấn đề này. Đó là để chứng minh rằng con có thể thực hiện được điều đó. Nếu con không thể vượt qua sự thử thách này, cuộc sống của con không có ý nghĩa gì cả. Tôi: Thử thách của sự trưởng thành? Để xem con có thể vượt qua được sự nguy hiểm và khó khăn? B: Vâng. Tôi: Đó thực sự là một thử thách của lòng dũng cảm. B: Chỉ là một việc mà con phải làm thôi. Tôi: Vì vậy, con sẽ giết chết nhiều trẻ em. B: Không nhất thiết như vậy. Con hy vọng được gia nhập vào đội tình báo. Tình báo thường không tham gia vào các trận đánh ở khu vực đông dân cư. Tôi: Vậy thì, con sẽ giết chết rất nhiều người cha của trẻ em. B: Điều đó có thể xảy ra. Vì đó là chiến tranh. Tôi: Đó là thử thách. Con khá dũng cảm. Thầy phục điều đó. B: Cảm ơn thầy. Tôi: Con có nghĩ đến mặt trái của nó không? B: Thầy nói vậy có nghĩa là gì? Tôi: Là con có thể bị thương. B: Sự việc đó có thể xảy ra. Tôi: Có lẽ con đã chuẩn bị tinh thần để trả giá cho sự việc đó, nhưng còn gia đình con thì sao? Giả sử con trở về, bị thương nặng, chúng ta hãy giả sử rằng con trở thành vô dụng. Thầy chắc chắn rằng cha mẹ sẽ đón nhận con trở về và sẽ chăm sóc con cho đến khi họ chết. Con có biết họ yêu thương con đến chừng nào không? Hãy giả sử rằng, khi trở về, con bị mất một phần khuôn mặt. Con sẽ nhận thấy cha mẹ và em con rất sung sướng xúc động vì con vẫn còn sống và đang ở nhà. Họ sẽ yêu thương chăm sóc con, người anh hùng của họ đã giúp gia đình trả nợ cho đất nước vĩ đại này. B: Dạ, có lẽ sẽ là khá khó khăn cho họ. Tôi: Nhưng họ sẽ là những người cuối cùng cho con biết sự khó khăn và đau khổ của họ. Con có biết, em trai con, người luôn luôn xem con là thần tượng của mình. Nó sẽ rất vui mừng vì có nhiều thì giờ với con hơn. Nhưng khi trở về phòng riêng, trái tim nó có lẽ vỡ tan ra triệu mãnh. Có lẽ nó sẽ khóc một mình và nói rằng: “Lạy Chúa, Ngài đã làm gì người anh yêu quý của con? Anh ấy từng rất đẹp trai và đầy sức sống! “ B: [Im lặng suy tư] Tôi: Con có quan tâm đến cái giá mà gia đình con phải trả, nếu con bị thương nặng trở về không? Con có sẵn sàng đem đến cho gia đình những thử thách như vậy không? B: Con nghĩ họ sẽ rất đau khổ. Tôi: Hết cả phần còn lại của cuộc đời của họ. B: Đó là một điều khủng khiếp Tôi: Chúng ta đều phải đối mặt với thử thách của mình. Con có nghĩ đến các thử thách khác không? B: Giống như những thử thách gì? Tôi: Có loại thử thách khác, cũng khá gay go nhưng dù con thất bại, con không trở thành một gánh nặng cho gia đình. B: Chẳng hạn như …? Tôi: Có rất nhiều thử thách trong quá trình tiến đến sự trưởng thành. Trên thực tế, có nhiều thử thách hay hơn, những thử thách có tính cách xây dựng thay vì đả phá. Mình không cần phải phá hủy hoặc gây đau đớn cho người khác để chứng tỏ sự cứng rắn và/hoặc ưu thế của mình. B: Con chắc vậy. Tôi: Thầy có thể nghĩ ra rất nhiều thử thách theo loại ôn hoà này . Khi mình suy nghĩ với quan điểm như vậy, thì chắc chắn mình sẽ khám phá ra rất nhiều. Thầy có thể cho con thấy một cái ngay bây giờ mà con sẽ không tin đó cũng là một thứ thử thách. B: Dạ. Thầy vui lòng cho con biết. (Tôi nâng vạt áo cà sa lên để lộ đôi chân của mình đang khóa lại trong thế ngồi kiết già – đã khoảng chừng hai giờ đồng hồ.) Tôi: Đây là một hình thức tu luyện cực kỳ khó khăn mà hầu hết mọi người đều thất bại. Nó có thể đau nhiều lắm mà không ai biết. B: Con phải thừa nhận rằng con đã quyết định rồi trước khi đến đây, nhưng bây giờ thì con không chắc lắm. Sau đó B từ giã tôi. Tôi nói với cậu ta rằng cậu đã để lại trong tôi một dấu ấn sâu đậm, cậu ta khôn ngoan và nhạy bén, và cậu sẽ không sao cả. Cho đến ngày hôm nay, tôi chưa bao giờ nói với ai về cuộc gặp gỡ này. Khi mẹ cậu bé hỏi tôi về cuộc gặp gỡ của chúng tôi, tôi nói với bà ấy rằng tôi không muốn nói bất cứ điều gì cho đến khi B quyết định, bởi vì tôi không muốn mình ảnh hưởng đến quyết định của cậu ta về bất cứ phương diện nào. Vài tuần sau đó, B. về thăm cha mẹ và nói với gia đình rằng cậu ta đã từ bỏ kế hoạch đi Iraq rồi. Cậu xin cha mình giúp đỡ tài chính để được huấn luyện thành một chuyên viên làm việc ở phòng cấp cứu. Cha của cậu trả lời ngay lập tức là: “Chúng tôi đồng ý!”. Vì vậy, thay vì chiến đấu tại chiến trường Iraq, B làm nhiệm vụ chiến đấu với tử thần tại phòng cấp cứu. Trong một thời gian ngắn, B đã thay đổi được quan niệm tư tưởng: thay vì liều mạng để chứng tỏ lòng dũng cảm, cậu ta kiên nhẫn và tận lực cứu người trong giai đoạn thập tử nhất sanh. Thật là một nhân vật đặc biệt! Bài học từ câu chuyện này: Tôi rất ngạc nhiên đối với sự tiếp thu của B bởi vì tôi biết có nhiều người thông minh và khôn khéo hơn đã cố gắng thuyết phục B. Sau khi đồng ý gặp B, thành thật mà nói, tôi không có ý kiến sẽ mong gì hoặc sẽ nói gì. Rõ ràng, chúng tôi đã có thể tạm hoãn (killing habit energies) thói quen giết người của B [từ những đời trước]. Ai biết được những gì khác mà người bạn trẻ thông minh và cứng rắn này sẽ nghĩ đến để tự thử thách chính mình! Tôi thật lòng hy vọng rằng cậu ta sẽ xử dụng cá nhân mình trong những lãnh vực có mục đích xây dựng hơn là đả phá. Nếu không nhờ sự giúp đỡ của Phật Dược Sư, vị tu sĩ ngu ngốc này đã không giúp được thêm gì nhiều. Cá nhân tôi, tôi đã biết chấp nhận thực tế: người ta đến với chúng tôi sau khi bị tuyệt vọng, đã thử qua những pháp hay ho khác của thế gian mà không được như ý́. Tôi có thể nói cho quí vị biết bí mật của tôi: phép lạ đến từ các vị Phật và Bồ Tát, nhưng quí Ngài quá khiêm tốn không nhìn nhận đó là công lao của mình. Trân trọng, TVH Hầu hết những người Phật giáo Á Châu đều khá quen thuộc với phương pháp niệm Phật. Nhiều người đã niệm Tên của Đức Phật A Di Đà. Nền văn hóa châu Á có vô số câu chuyện về sự cảm ứng do niệm Phật. Câu chuyện dưới đây là một điển hình. Chuyện này xảy ra khi Việt Nam còn là một thuộc địa của Pháp. Một trung úy người Pháp đem lòng yêu thương một cô gái trẻ Việt Nam. Cô xuất thân từ một gia đình giàu có, cô tốt nghiệp trung học Pháp tại Việt Nam. Đương nhiên, gia đình cô phản đối mối quan hệ này và đe dọa sẽ từ bỏ cô. Cặp tình nhân bất chấp mọi sự phản đối. Vào mỗi ngày Chủ Nhật, cô ta mặc áo dài và đưa anh bạn đến chùa lể Phật. Cô dạy cho anh ta dâng hương, chắp tay và cùng quỳ xuống, niệm Phật, cầu xin sự giúp đỡ và hướng dẫn. Người trung úy trẻ này không một chút tin tưởng, đơn giản anh làm theo chỉ vì anh muốn được gần gủi cô bạn gái mà thôi. Sau khi kết hôn với anh phi công người Pháp yêu quý, cô dọn vào khu quân sự ở bởi vì cô đã bị gia đình từ bỏ. Họ sống hạnh phúc như những cặp tình nhân trẻ khác. Một buổi tối nọ, người trung úy đi tuần tra cùng với người phi công phụ. Họ bay ra đại dương. Thời tiết xấu, tầm nhìn rất ngắn, chiếc máy bay bị trục trặc kỷ thuật buộc phải hạ cánh trên mặt biển. Khi chiếc máy bay bắt đầu chìm, người trung úy trẻ tuổi, hồi tưởng đến người vợ yêu quý của mình. Anh biết rằng giờ này cô ấy đang ở nhà, đã chuẩn bị xong bữa ăn tối và đang chờ anh. Cô cũng đang chân thành niệm Phật, cầu xin cho anh được bình yên trở về như cô vẫn thường làm mỗi khi anh thi hành nhiệm vụ. Trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời, anh cảm nhận tình yêu mãnh liệt đối với vợ mình. Ôi, Anh sẽ đánh đổi tất cả để được bên cạnh vợ mình! Dù không được gần nhau bằng thể xác, anh nguyện cầu hai tâm hồn được ở gần nhau: Anh chắp tay thành khẩn niệm cầu Đức Phật. Rồi một chuyện kỳ lạ xảy ra: chiếc máy bay ngừng chìm! Viên phi công phụ cũng nhận thấy sự việc đó và hỏi anh ta đã làm những gì. Sau đó, cả hai người họ cùng bắt đầu thiết tha niệm danh hiệu Đức Phật. Trong khoảng một giờ, một chiếc tàu chở hàng đi qua và cứu họ. Khi được đưa lên tàu, họ nhìn lại và nhận thấy rằng chiếc máy bay của mình đã biến mất vào biển đen! Quí vị niệm Phật càng thành tâm chừng nào thì cơ hội có cảm ứng càng nhiều chừng đó! Quý vị đã bao giờ có một người vừa là bạn vừa là bạn đời? Người mà có thể thấu hiểu những gì quý vị thích và những gì quí vị không thích, người mà có thể nói tiếp câu nói giở chừng của quí vị, một người mà quí vị tin tưởng gởi gắm vợ con mình, hoặc ngay chính cuộc đời mình… Tri Âm: Tiếng Trung Hoa Thầy tôi, cố Hòa thượng Thích Mãn Giác, mười năm trước, giải thích khái niệm của người Trung Hoa về người bạn thân nhất cho tôi, khi ông chính thức nhận tôi là một tu sĩ xuất gia thọ Cụ Túc giới. Tôi không còn nhớ tên chính xác Thầy đã dùng trong câu chuyện, xin hãy tha thứ cho nhớ trí nghèo nàn của tôi, không phải cố tình thất lễ. Ngày xưa, ở Trung Quốc, có một vị quan cấp cao. Ông chơi đàn rất hay. Ông chơi đàn hay đến độ mà không thể nào tìm được một người nào có đủ trình độ để thưởng thức sự điêu luyện của mình. Vì thế, ông thường ngao du trên chiếc thuyền nhỏ đến những nơi xa xôi và chơi đàn một mình. Một ngày kia, ông dừng lại bên bờ sông một nơi hẻo lánh, và chơi đàn. Tiếng đàn vừa dứt, ông bỗng nghe ai đó lớn tiếng thở dài và nói: “Thật tuyệt vời – nhưng có thể nào một người tài năng như vậy mà lại cảm thấy rất cô đơn!” Đó chính là những gì ông cảm thấy khi ông lang thang nơi chốn hoang vắng này, buồn biết bao khi mình có khả năng sáng tác những khúc nhạc tuyệt vời, mà không thể tìm thấy một ai đó để thưởng thức. Ông quan nhìn lên và thấy một ẩn sĩ ngồi trên một tảng đá bên bờ sông. Họ bắt đầu chuyện trò, quên mất cả thời gian, và trở thành đôi bạn thân. Sau đó, ông quan trở về thành phố làm việc. Khi cơ hội cho phép, ông lại vội vã quay trở lại bờ sông tìm lại người bạn mới quen. Than ôi! ông tìm, và tìm mãi, nhưng người bạn ẩn sĩ vẫn không thấy đâu. Cuối cùng, ông được biết người bạn ẩn sĩ của mình đã qua đời. Ông quan buồn bã trở lại con thuyền, đập cây đàn vỡ tan tành, và từ đó ông không bao giờ chơi đàn nữa. Đó là lý do tại sao danh từ Trung Quốc dùng để gọi người bạn thân nhất là Tri Âm (zhi yin 知 音). Tri (Zhi 知) có nghĩa là biết; Âm (Yin 音) có nghĩa là âm thanh. Tri âm là người bạn thấu hiểu được âm thanh (tiếng lòng/tâm sự) của mình. Một khao khát của đời người Tôi nhớ câu chuyện này bởi vì Thầy tôi đã kể nó cho tôi nghe một cách trìu mến nhất. Tôi đã rất may mắn có được một vị Thầy hào hiệp như vậy. Cho đến bây giờ, mỗi lần nghĩ đến Thầy, tôi vẫn cảm thấy buồn vì đã không dành nhiều thì giờ với Thầy trước khi ông qua đời. Câu chuyện được ghi nhớ vì một lý do khác nữa. Suốt cả cuộc đời, tôi luôn luôn khao khát điều này: tìm được người bạn thân nhất, một người bạn tri âm. Tôi luôn luôn cảm thấy có một khoảng trống trong tâm hồn mà không người bạn gái nào, người vợ, hoặc người bạn nam giới nào có thể lấp đầy. Cuối cùng người bạn tri âm đã đến Những năm sau đó, tôi dành nhiều thì giờ và nỗ lực tu Pháp Tịnh Độ, tôi bắt đầu niệm hồng danh Phật A Di Đà với tất cả sự thành tâm. Một đêm kia, khi tôi đang niệm tên Ngài thì bất chợt Ngài hiện đến, cùng với Quan Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát bên cạnh. Ông xoa nhẹ đầu tôi. Giây phút đó, một cảm giác khó tả tràn ngập tim tôi. Ngày hôm sau, tôi ý thức rằng niềm khao khát người bạn tri âm của mình bỗng nhiên không còn nữa: người bạn tri âm của tôi, Phật A Di Đà, cuối cùng đã đến với tôi, khi tôi gọi tên Ngài. Tôi hy vọng Phật A Di Đà cũng là người bạn tri âm của quí vị. |
AuthorWrite something about yourself. No need to be fancy, just an overview. Archives
January 2014
Categories |







RSS Feed