|
Thuở xa xưa có một thầy Bà la môn rất thông tường kinh Vệ Đà và rất nổi tiếng. Ông ta được thỉnh tổ chức lễ “Siêu Độ Cho Người Quá Cố”. Ông sai mua một con dê rồi bảo các đệ tử: “Dẫn con dê này xuống sông tắm cho nó. Rồi đem luá cho nó ăn, đeo vòng hoa vào cổ nó. Xong xôi hãy đem nó đến cho thầy.”
Các đệ tử tuân lệnh tắm rửa dê rồi để con dê trên bờ. Dê bỗng nhiên nhớ lại nghiệp quá khứ và rất sung sướng khi biết rằng ngày hôm nay sẽ trả xong nghiệp và thoát khổ. Cho nên dê cười khanh khách. Tiếp theo thì dê hiểu rằng người thầy Bà la môn sẽ bị khốn đốn vì giết nó, con thú thương hại cho ông ta, và khóc rống lên. “Này dê,” các cậu Bà la môn trẻ bảo, “Tại sao lại cười rồi khóc to tiếng như thế?” “Hãy hỏi lại câu này trước mặt thầy quí vị để tôi trả lời cho mà nghe”, con dê đáp. Nhóm học trò đem dê đến trước thầy và tường trình lại câu chuyện. Ông Bà la môn hỏi dê tại sao khóc và cười. Dê bảo ông: “Trước đây, này ông Bà la môn, như ông, tôi cũng làm Bà la môn tinh thông kinh bí Vệ Đà. Nhân tổ chức lễ “Siêu Độ Cho Người Quá Cố”, tôi cúng tế một con dê. Vì nghiệp sát đó mà đã phải bị chém đầu 499 lần rồi. Đây là lần thứ 500 và là lần cuối cùng. Tôi cười rộ vì thấy rằng hôm nay chính là lần cuối cùng trả nghiệp và tôi sẽ được thoát khỏi cái khổ ách làm thân dê. Rồi tôi chợt nhớ rằng cũng như tôi, ông sẽ phải chịu bị chém đầu cả 500 kiếp vì nghiệp giết tôi, nên cảm thấy đau lòng cho ông mà phát khóc.” “Đừng sợ gì cả,” thầy Bà là môn nói, “Ta sẽ không giết ngươi đâu.” Dê đáp: “Ông có muốn giết tôi hay không thì tôi cũng không tránh được vì hôm nay là ngày tận số.” “Khỏi sợ, dê à! Ta sẽ bảo vệ cho ngươi.” “Này ông Bà la môn, sức bảo vệ của ông thì yếu còn nghiệp lực của tôi thì quá mạnh!” Ông Bà la môn thả dê ra và bảo đệ tử, “Chúng ta phải canh chừng không cho bất cứ ai gia hại con dê này.” Bọn họ liền luôn luôn theo cạnh dê. Sau khi được tha, dê tìm ăn nơi cây mọc trên một tảng đá. Ngay lúc ấy sét đánh vào tảng đá khiến cho một mảnh đá vỡ ra, trúng nhằm cổ dê và chém đứt cái đầu. Nếu chúng ta thật sự biết hậu quả của nghiệp sát sinh là bị sinh vào chốn khốn khổ trong rất nhiều kiếp, thì sẽ tránh sát sinh. Khó mà có thể kháng cự được nghiệp lực.
0 Comments
Tôi thường nghe nói rằng chúng ta phải nên “sống trong giây phút hiện tại ”, “sống tại đây và lúc này”, “sống trong hiện tại” hoặc những câu tương tự, nhất là trong những môi trường tu tập thiền.
Tôi cũng đã từng nghe nhiều giải thích nhưng cảm thấy chưa thỏa mãn. Trước hết, câu “sống trong giây phút hiện tại ” nhắc nhở chúng ta nên tránh bị loạn tâm. Chúng ta thường “vọng tưởng”: không thể ngừng suy nghĩ. Ví dụ, theo tập khí thì chúng ta có thể vừa ăn cà rem rất ngon nhưng lại vừa nghĩ về việc làm tại sở. Một số người cho rằng như vậy là tốt vì có thể “làm nhiều chuyện một lúc multi-tasking” nhưng đối với thiền sinh thì đó là loạn tâm: không có lợi vì tâm chúng ta thiếu tự chủ. Cho nên các thiền sư khuyên chúng ta sống trong hiện tại và tập bớt vọng tưởng bằng cách chú tâm vào việc đang làm. Tâm chúng ta thích tưởng nhớ quá khứ hoặc tính toán về tương lai thay vì chú tâm nơi hiện tại: đó là bỏ bê thực tại mà chúng đang sống! Thực tế là vì chúng ta vô phương ngừng tâm hưu vượn nên tốt hơn là phải rèn luyện tâm khiến có thể chú ý đến hiện tại, như vậy chúng ta sẽ dễ dàng tập trung tư tưởng khi “cần” phải suy nghĩ. Câu “sống tại đây và bây giờ” cho nhiều chi tiết hơn. Tại đây chỉ về không gian và bây giờ chỉ về thời gian. “Tại đây” chỉ chốn mà chúng ta đang ở. Chúng ta nên ý thức rõ ràng nơi chốn mà chúng ta đang trụ, tức là thân ở đâu thì tâm ở đó. Đối với người theo Đại Thừa thì sâu sắc hơn, tại đây còn ám chỉ bản thân: chốn sâu xa nhất của các giác quan. Những người hiểu Đại Thừa sẽ nhấn mạnh sự quan trọng ở trong mà không chạy ra ngoài đuổi theo hình sắc, âm thanh, hương thơm, mùi vị, xúc chạm và đồ vật. Thế là đang sống trong thực tại, trong tự tánh. “Bây giờ” nhấn mạnh hiện tại. Thật ra, hiện tại không tồn tại vì ngay khi chúng ta bàn đến nó thì nó đã thành quá khứ rồi. Chúng ta cũng không thể ngắm vị lai để chụp hiện tại vì vị lai chưa đến nơi. Điều nầy được giải thích trong Kinh Kim Cang: “Quá khứ bất khả đắc, hiện tại bất khả đắc, tương lai bất khả đắc”. Trong phạm vi thực tại của bài này, “bây giờ” nhấn mạnh sự quí báu của hiện tại. Chúng ta phải biết quí hóa cuộc sống. Tôi xin đề nghị: hẫy biết sống bằng cách làm việc thiện và không quá tự nuông chìu, nghĩa là không bành chướng cái tôi vị kỹ cũa mình. Hơn nữa, chúng ta cũng cần tránh quan nghiệp thiển cận của những người chỉ biết sống hưởng thụ được ngày nào hay ngày ấy, chẳng cần biết đến tương lai. Chúng ta phải không ngừng tạo thiện nghiệp và tránh tạo ác nghiệp. Đây là dùng tinh thần Đại Thừa đễ áp dùng câu sống trong lúc này: hành thiện tạo nhân duyên để thăng tiến và vươn thoát khỏi các tập khí ích kỹ và nhỏ nhen của phàm phu. Cuối cùng, “sống tại đây” nghĩa là phải quan tâm cho môi trường: chúng ta nên giúp gầy dựng thay vì lợi dụng để tư lợi. Sống trong hiện tại tức là quan tâm cho người khác: chúng ta nên quyết chí sống lương thiện và dễ thương thay vì chỉ mưu toan cho và khoái lạc của cá nhân mà thôi. Tháng vừa qua, bổn tự đã cử hành Thiền Thất cuối năm như thường lệ, và thời gian khóa tu năm nay là một tháng thay vì một tuần như những năm trước. Bốn tuần thiền thất này là cơ hội để chúng tôi được chuyên tâm tu luyện sau cả năm hoạt động về Phật sự.
Lần này, dầu ít người tham gia hơn ba năm trước nhưng có nhiều cảm ứng tốt hơn. Ví dụ, người của hơn mười chủng tộc khác nhau tham dự, cho nên chùa càng ngày càng thật sự trở thành quốc tế. Dầu ít ai có thể tham gia tu luyện mỗi ngày từ 3 giờ sáng đến 12 giờ khuya nhưng có nhiều người đến ngồi thiền với đại chúng một vài thời, hoặc đến nghe giảng pháp để được giải đáp các thắc mắc về pháp môn thiền, hoặc khi mệt thì đi làm công quả để ủng hộ thiền thất. Đến ngày cuối cùng, chúng tôi dùng trai và mời một vài thiền sinh trình bày cảm tưởng. Đặc biệt năm nay, có rất nhiều cảm ứng. Rất nhiều thiền sinh tăng trưởng định lực dầu chỉ tham gia bán thời gian (part-time). Lại có người tự chữa bịnh phổi của mình mà bác sĩ không tìm ra được triệu chứng từ mười lăm năm nay. Xin quí vị vào trang mạng của chùa chúng tôi nghe băng nếu muốn thêm chi tiết: vn.chanpureland.org hoặc email [email protected] Pháp môn Thiền thất này rất thâm sâu. Chư lịch đại tổ sư đã từng cử hành để giúp chúng sinh phát huệ, đắc an lạc và tăng trưởng định lực. Cho nên bổn tự sẽ tổ chức một tháng Thiền thất hai lần mỗi năm. Thiền thất tiếp theo sẽ bắt đầu vào tuần cuối tháng Năm, kính mời quí vị đến tham gia. Chúng tôi xin ghi ơn các Long Thần Hộ Pháp đã tích cực và lao nhọc bảo vệ Thiền thất để chúng tôi bình an tu hành. Trong nguyên cả tháng Thiền Thất này, không nghe xe cảnh sát hú còi một lần nào cả trong lúc bình thường ở xóm này trung bình thì hai tuần còi hú một lần. Sau Thiền thất, mọi người đều được pháp hỷ sung mãn. Chúc quí vị một năm mới pháp hỷ sung mãn và mọi sự như ý. Một cách để xuống cân là luyện thiền; nhưng phải biết phương pháp thích hợp!
Luyện thiền có mục đích chính là để phát triển khả năng tự ý thức, tuy nhiên cũng có ích lợi cho thân thể và sức khỏe. Thông thường quí vị lên cân ngoài ý muốn vì ăn quá độ. Sở dĩ ăn quá độ vì có những sự kích thích làm quí vị thèm ăn mà không thể cản được, quí vị vẫn ăn mặc dù không đói. Bản thân của chúng ta bị tác động bởi nhiều áp lực. Nếu ý thức được các loại kích thích đó thì đã giải quyết được phân nửa vấn đề rồi. Ví dụ, một loại kích thích là lửa giận. Một loại khác là không vui. Lại một loại nữa là chán chường. Trước kia thầy biết một cô khoảng trên hai mươi tuổi. Mỗi khi cô buồn tình thì lập tức chụp ngay hộp ngũ cốc (cereal), trốn vào một góc xó và nhai ngồm ngoàm để tự trấn an bằng chất đường và bột (carbohydrates). Nói chung, một số áp lực thuộc về các loại cảm giác buồn, nếu ăn vào ngay lúc ấy thì hình như được sự an ủi (comfort food) nên rất dễ tạo ra một loại “nghiện.” Quí vị nên tự liệt kê những loại áp lực thường khống chế mình để có thể sớm nhận ra chúng nó. Nhận ra càng sớm thì càng dễ đối phó hơn. Nửa phần còn lại của giải pháp là biết “nhẫn” sự thúc dục, sự thèm ăn cho đến khi nó qua đi. Trong tình trạng này, người biết thiền có nhiều hy vọng thành công hơn vì họ phát triển được tính kiên nhẫn nên có thể “đợi” cho đến khi cơn bão thổi qua đi. Hơn nữa người luyện thiền có tiến bộ thì vọng tưởng ngày một giảm đi, chúng không thể tập hợp lại để tạo ra áp lực, do đó thiền sinh tinh tấn thường có thể tự chủ được. Dĩ nhiên là nếu quí vị thích tự nuông chìu và không thể chịu khó luyện thiền thì vô phương cứu chữa! Tôi gặp Hiền Giới, tục danh Thomas Meier, tại Tây Lai Tự ở Los Angeles vài năm trước. Hôm ấy, tôi ghé qua Tây Lai Tự dùng trưa vì nơi đó là một trong rất ít chỗ có thức ăn chay mà không có hành tỏi. Ngoài truyền thống hoan nghinh người xuất gia đến dùng cơm miễn phí, cách cư xử của nhân viên tại chùa cũng khiến tôi thoải mái đến viếng chùa khi có duyên. Sau khi lấy thức ăn, tôi ngồi tại phòng ăn và mang iPod earphones mà học trò tặng để nghe ngài Tuyên Hóa giảng Kinh Hoa Nghiêm. Ăn một lúc thì có một người da trắng trẻ tuổi ngồi xuống, đối diện với tôi và bắt đầu gợi chuyện. Anh ta là Thomas. Thomas rất lịch sự và lễ phép. Anh nói đang lái xe đến chùa trên núi của sư phụ người Nhật để tu Zen vài tháng. Thomas cho biết là đang học chương trình tiến sĩ về triết học tại Đại học California, Irvine và đã luyện thiền cả mười năm rồi. Tôi lập tức hỏi: “Vậy tại sao anh vẫn không có định lực gì cả?” Anh hỏi: “Định là gì?” Tôi trả lời: “Định là sức chú ý. Làm sao anh có thể tu thiền mà lại không biết về định lực?” Thomas liền xin phép đến chùa tôi tại Rosemead nghe giảng kinh . Lúc ấy chúng tôi đang nói về bát định trong khi giảng kinh Địa Tạng. Rồi anh đến chùa mỗi chúa nhật: sáng thì tụng kinh A di đà và niệm Phật, chiều thì nghe giảng kinh Đại thừa. Chúng tôi tốn vài tháng mới giảng xong bát định. Trong thời gian này, Thomas tu hành rất gắt gao và không bao lâu thì đắc được Nhị thiền. Anh đặt rất nhiều câu hỏi vì cảm thấy lời giảng thường đi ngoài sách vở. Anh rất thông minh và thành tâm muốn học về giáo lý Đại thừa. Tôi giảng xong bát định thì tuyên bố sẽ giảng về cửu định khi giảng kinh Kim cang. Thomas lập tức mất dạng. Một năm sau, Thomas trở lại chùa để cầu cứu. Anh thố lộ bị bịnh hưng trầm cảm (manic depression) cả đời và đang bị hành rất nặng. Anh còn nói rằng rất thích học Đại thừa với chúng tôi và đã đọc sách ngài Tuyên Hóa theo lời khuyên của chúng tôi. Anh còn nói rằng muốn đến chùa học thêm về Đại thừa. Tôi liền trả lời rằng không đủ khả năng để giúp anh. Nên anh ta bỏ đi. Vài tháng sau anh lại đến và xin tham dự các buổi tu cuối tuần. Mấy tháng sau, công phu Thomas tiếp tục tăng trưởng và bắt đầu vào Vô sắc giới. Anh làm đơn xin chính thức đến chùa cư trú để làm công quả. Sau này tôi mới giải thích cho Thomas hiểu tại sao tôi không chịu giúp khi anh ta đến cầu cứu và xin theo tôi tu học. Như đa số người Tây phương muốn học Phật giáo, anh có thái độ sai lầm. Hành động của họ dường như nói: “Tôi đây, dạy tôi đi!” Nếu bạn muốn học Phật giáo thì có thể đọc sách hoặc học với nhiều thầy. Nếu muốn học Đại thừa theo chúng tôi thì phải được truyền dạy. Phải được dạy vì đó là một sự ban ân từ sư phụ cho đệ tử. Bàn về chứng hưng trầm cảm (manic depression), câu chuyện anh Thomas có thể giúp người khác. Kinh nghiệm anh cho thấy rằng mặc dầu uống thuốc và gặp bác sĩ rất có lợi, nhưng môi trường sống cũng rất quan trọng. Cho nên anh ta thường đến ở tại chùa Zen của sư phụ. Tương tự như thế, Thomas cũng được an toàn và dễ chịu tại chùa chúng tôi. Anh ta tu hành rất siêng năng và làm việc rất đắc lực. Vì chương trình huấn luyện khá gắt gao nên Thomas ít có thì giờ ngủ nghỉ. Trong quá khứ, bác sĩ nhấn mạnh rằng thiếu ngủ sẽ dễ lên cơn. Nhưng không ngờ khi ở tại chùa chúng tôi thì tinh thần càng ngày càng tiến bộ mặc dầu phải làm viêc túi bụi ngày đêm. Chắc đó là vì nhờ môi trường thanh tịnh, thức ăn lành mạnh hơn, được Phật Dược Sư bảo hộ và chương trình thiền tịnh đồng tu của bổn tự. Sau khi đến chùa ở năm tháng thì Thomas quyết định ngừng uống thuốc thần kinh. Vị thầy thuốc Đông y của chùa đã từng nói với Thomas rằng uống các loại thuốc đó đang có ảnh hưởng không tốt vì nhiệt khí sẽ tụ tại bụng. Sau khi ngừng uống thuốc mấy tháng, Thomas có vẻ bình thường và tiếp tục tiến bộ trong việc tu luyện. Thầy rất vui khi Thomas nhất quyết xuất gia làm sa di. Chương trình huấn luyện sa di của chúng tôi còn gắt gao hơn chương trình dành cho người tại gia nữa. Thomas sẽ gặp rất nhiều thử thách trong hai năm tiếp theo. Mong quí vị phát tâm ủng hộ anh ta trong hành trình tâm linh này. Thuở xa xưa, tiền thân đức Phật sinh vào một gia đình khá giả. Sau khi trưởng thành, ngài hiểu rằng đam mê chỉ tạo ra đau khổ, nếu biết từ bỏ đam mê thì sẽ đắc hạnh phúc chân thực. Cho nên ngài quyết định ly dục: ngài xuất gia và lên ẩn tu trên dãy Hy mã lạp sơn, dần dà có thành tựu rất cao. Ngài bắt đầu nhận học trò, có đến 500 người theo ẩn tu. Một hôm, có con rắn độc nhỏ bò đến trước chòi của một tu sĩ. Anh ta thích con rắn lắm, nên coi nó như con của mình, bỏ nó trong một khúc tre và nâng niu nó. Khi vị thầy nghe học trò nuôi rắn thì lập tức gọi anh ta vào và khuyên, “Không thể tin rắn được; nên thả nó đi ngay.” Vị tu sĩ van lơn: “Thầy ơi! con quí con rắn này không khác thầy quí học trò; con không thể sống thiếu nó.” “Vậy thì,” vị thầy trả lời, “Anh nên nhớ rằng có thể mất mạng vì nó đấy.” Người tu sĩ nhất quyết không chịu nghe lời thầy mình và tiếp tục giữ con rắn. Vài ngày sau, tất cả các tu sĩ đi xa lượm trái cây. Họ đến một chốn có rất nhiều trái cây đủ loại nên ở lại đó hai ba ngày. Người tu sĩ nuôi rắn cũng tham gia, nên bỏ con rắn lại trong cái tù tre. Vài ngày sau, khi họ trở về, ông ta liền cho rắn ăn. Ông mở khúc tre, thọt tay vào và nói, “Lại đây, chắc là con đói lắm.” Nhưng vì bị bỏ đói lâu, ngay lập tức rắn cắn tay người tu sĩ, giết ông ta. Rồi con rắn bỏ chạy vào rừng. Câu chuyện làm sáng tỏ một điều mà tôi bắt đầu hiểu sau nhiều năm dạy Phật pháp. Tôi cố ý huấn luyện cho vài người học trò rất khó huấn luyện vì nuôi hy vọng rằng Pháp có thể biến đổi tâm tính của họ. Tôi bắt đầu phải cam chịu rằng không đủ đạo đức để giúp những hạng người này vì có thể như con rắn nhỏ kia, họ không thật sự muốn tu hành gì cả mặc dầu họ thề thốt là nguyện tu tới nơi tới chốn. Chẳng những họ hoàn toàn không chịu cải tà qui chánh, xả ác hướng thiện, họ lại sẵn sàng cắn những người xung quanh khi bị phiền não. Rất đáng tiếc rằng họ không hái được gì sâu xa về Phật pháp trong lúc một số người khác hưởng đại lợi khi biết cam nhẫn cái ác của họ. Cuối cùng, chúng ta nên nhớ phải nghe lời của thầy hoặc bậc có trí huệ, nhất là khi lời khuyên nhũ của họ không dịu ngọt như ý chúng ta. Hôm nay, một đệ tử của tôi dẫn đứa con nhỏ đến chùa, bảo nó chào tôi và cho biết cháu bắt đầu vào trường học lớp một. Đứa bé này, tôi biết từ khi nó mới 2 tuổi và cháu được quy y lúc 4 tuổi.
Tôi xoa đầu nó và nói: thầy rất vui. Và thầy sẽ hảnh diện hơn nếu con vào trường biết nghe lời thầy cô giáo và không đánh nhau hay cãi nhau với các bạn. Tôi hy vọng các bậc làm cha mẹ cũng thường nên nhắc nhở các con như vậy. Nếu đứa bé không làm được hai điều này, nghĩa là nó thường thiếu lễ phép và không kính trọng những người trên cũng như không biết nhường nhịn cho bạn bè, luôn luôn có tinh thần đấu tranh, bất phục thì quí vị nên tự xét mình: chúng nó bắt chước quí vị đấy! Tôi mong những người làm cha mẹ nên làm gương tốt cho các con. Chúc quí vị nhiều an lạc. A Di Đà Phật Trong một tiền kiếp cách đây rất lâu, tiền thân ngài A Nan mới lên làm vua, kế vị vua cha. Bấy giờ có rất nhiều người đến cầu cạnh. Cho nên nhà vua mới hỏi quân sư, một tiền thân của Phật Thích Ca: “Làm sao trẩm có thể nhận diện ai là bạn ai là thù?” Phật liền nêu ra 16 hành vi có thể tiết lộ kẻ thù:
Mặc dầu nhận diện được bạn hay thù có nhiều lợi, nhưng chúng ta nên nhớ rằng theo tinh thần Phật giáo, chúng ta không nên chấp vào bạn hoặc thù. Có người thắc mắc về những kẻ có lúc có hành động của người bạn, đôi khi lại có hành vi của kẻ thù. Trong trường hợp này, chúng ta cần biết tin theo linh tính để phán xét hành vi nào là chính. Chung qui, người bạn hay thù chân thật sẽ lộ diện ra theo thời gian. Việt Nam có câu: “Thức khuya mới biết đêm dài; Ở lâu mới biết lòng người thực hư.” Nói cách khác, quen ai đủ lâu thì sẽ biết rõ ràng họ có những hành động gì, và đó mới là sự biểu lộ thực chất của người ấy. Một người khác lại hỏi: “Theo Phật giáo, bộ không phải ai cũng là bạn của chúng ta sao?” Trả lời: “Không đâu! Ma quỉ không phải là bạn của chúng ta. Nếu thấy ma thì quí vị nên lập từc bỏ chạy!” Nhiều khi người bạn thân thiết nhất, mà chúng ta thích ỷ lại nhất, lại có thể là ma quỉ đang cản trở việc tu hành của chúng ta. Khi chúng ta nhận diện ra kẻ thù thì có nên bỏ chạy hay không? Thật ra, người biết tu hành sẽ không bỏ chạy đâu. Ngược lại, người chân tu chọn thân cận kẻ thù để cố gắng giúp họ cải ác hướng thiện. Ví dụ, làm sao giúp những người có hai mặt và thích bịp bợm? Quí vị phải cần gần gũi họ và sẵn sàng để cho họ hại quí vị. Đức Phật là một điển hình. Ngày trước khi ngài sắp đắc Đạo, sau khi vừa mới đả bại ma quân do ma vương huy động, vua ma bèn sai ba cô con gái đẹp mê hồn đến dụ dỗ Phật. Nhưng đức Thế Tôn lập tức đuổi chúng nó đi, mắng rằng chúng nó chỉ là “bị da thối”. Cho nên, ma vương sinh tò mò, muốn biết tại sao Phật có thể an nhiên tự tại trước những phá hoại và tấn công, bèn đến gặp Phật để tìm hiểu điều này. Như Lai bèn thuyết Pháp cho ma vương, khiến hắn ta đắc Sơ Quả A La Hán. Quí vị thấy không? Vì có thể nhẫn các tấn công và não loạn từ ma vương mà đức Thế Tôn có thể giúp ma. Đôi khi, chúng ta cũng cần phải để cho người gia hại mới có cơ hội giúp đở họ. Muốn giúp thì phải sẵn sàng trả giá đắc Thuở xa xưa, trong một tiền kiếp, tiền thân đức Phật làm nghề bán chậu và nồi. Trong cùng khu vực, cũng có một người đồng nghiệp, bán cùng thứ hàng nhưng người này rầt tham lam. Hai bên thỏa thuận với nhau: chia khu vực, mỗi người bán dạo trong vùng của mình. Tại một thành phố nọ, gần đấy, có một gia đình thương gia trước đây rất giàu có nhưng nay bị phá sản, các người con trai và anh em họ cũng qua đời, chỉ còn lại một cô con gái và bà nội. Cả hai sinh sống bằng cách làm mướn cho người ta. Tuy nhiên, họ vẫn còn có một cái tô bằng vàng mà ông đại thương gia, chủ gia đình, lúc còn sống thường dùng. Tô này đã không được xử dụng từ lâu và bị bụi bậm bám đầy làm dơ dáy, cho nên hai người đàn bà không biết giá trị nó. Người bán dạo tham lam đến trước nhà họ rao, “Ai mua chậu nước không? “Ai mua chậu nước không? ” Cô gái nói với bà nội, “Nội ơi, mua cho con một cái chậu nước nhé!” Chúng ta nghèo quá, còn có gì để trao đổi bây giờ?” “Có cái tô kia mà mình không dùng. Có thể thử coi.” Bà già mời người bán dạo vào nhà và mời ngồi. Bà ta đưa cái tô, nói rằng, “Ông ơi, lấy cái này và vui lòng cho cháu tôi một cái chậu nhé.” Ông bán dạo tham lam cầm cái tô, lật úp nó, và, nghi rằng tô bằng vàng nên kín đáo rạch nó với một cây kim rất nhỏ, biết chắc rằng tô làm bằng vàng. Rồi, nghĩ rằng mình có thể lừa gạt hai người đàn bà khốn khổ này bèn nói, “Quí vị nghĩ như thế nào mà đem tô đổi chậu? Không đáng giá gì cả!” Nói rồi, ông vứt cái tô xuống đất, đứng dậy, và bỏ đi. Hai người bán dạo trước kia cũng có thỏa thuận có thể bán tại chỗ mà người kia đã bán dạo qua rồi. Người bán dạo thật thà (tiền thân đức Phật) đến trước nhà đó và rao, “Ai mua chậu nước không? ” Cô con gái lại năn nĩ bà nội, bà trả lời, “Cháu ơi, ông bán dạo trước đã vất cái tô và bỏ đi. Chúng ta còn gì để trao đổi đây?” “Nhưng ông trước rất khó tính. Ông này thì có vẻ hòa hoản hơn mà lại nói năng nhỏ nhẹ. Biết đâu ông ta chịu nhận cái tô ấy.” “Vậy cháu gọi ông ta vào đi.” Ông bán dạo được gọi vào nhà. Họ mời ông ngồi và trao cái tô. Biết rằng tô bằng vàng, ông bán dạo nói rằng, “Mẹ ơi, tô này đáng giá một ngàn đồng tiền; tôi không có đủ số tiền đó trong tay.” “Thưa ông, người bán dạo trước đến và bảo rằng nó không đáng gì cả. Ông ta đã vứt nó xuống đất và bỏ đi rồi. Chắc là nhờ cảm ứng từ lòng lương thiện của ông mà cái tô hóa thành vàng đấy. Ông cứ nhận nó và cho chúng tôi gì cũng được.” Lúc ấy người bán chậu thật thà chỉ có 500 đồng tiền và một số hàng cũng trị giá khỏang 500 đồng. Ông ta bèn trao hết cho hai người đàn bà, nói rằng, “Để cho tôi giữ lại cái cân, bao, và một ít tiền lẽ để trả tiền đò về nhà.” Sau khi họ đồng ý thì ông lập tức lên thuyền trở về. Không bao lâu sau thì người bán dạo tham lam trở lại nhà hai người phụ nữ và cho họ biết là ông ta chịu đổi cái tô với một ít hàng hóa. Nhưng bà già mắng, “Chính ông đã nói rằng cái tô bằng vàng trị giá cả ngàn đồng tiền của chúng tôi không có giá trị gì cả. Mới đây có người đồng nghiệp ngay thẳng của ông, chịu trả cho chúng tôi cả ngàn đồng tiền nên chúng tôi đã trao nó cho ông ta rồi.” Không những người bán dạo tham lam lở mất cơ hội kiếm lời mà lại còn sinh lòng thù hận và ganh tỵ với người bán dạo lương thiện, điều này đã làm cho ông trở thành một người cay đắng và căm hận. Thật đáng khen cho những người buôn bán kiếm lời mà vẫn giữ được tánh lương thiện và đạo đức. Chúng ta nên biết rằng đối xử công bằng và tử tế với mọi người thì sẽ được sự tin tưởng lâu dài và lợi ích. Những kẻ chỉ biết coi trọng tư lợi là hoàn toàn sai lầm, họ thường rất khổ sở vì dường như họ không bao giờ cảm thấy đầy đủ và hài lòng với những gì họ đang có. Một trong những đại Hộ Pháp của đức Phật, Anāthapindika, có một người cháu trai. Người thanh niên này đã tiêu pha phung phí hết một gia tài thừa kế 40.000 (bốn chục ngàn) lượng vàng. Sau khi đó, anh đến thăm người chú, chú anh đã cho anh 1.000 (một ngàn) lượng vàng và khuyên anh nên dùng số tiền này để làm ăn buôn bán. Người thanh niên cũng tiêu xài hết số tiền này, trở lại gặp chú, một lần nữa anh được cho 500 (năm trăm ) lượng vàng.
Rồi chứng nào tật nấy, anh đã phung phí hết số tiền như những lần trước và lại đến tìm người chú nhưng lần này người chú chỉ cho anh hai bộ y phục bằng vải thô. Khi áo quần tả tơi, anh ta một lần nữa đến xin giúp đở, anh bị chú túm cổ và tống ra khỏi cửa. Người thanh niên tuyệt vọng, té xuống cạnh bên một bức tường và chết. Người ta kéo xác anh ra khỏi thành phố và ném vào một cái rãnh. Anāthapindika đi gặp đức Phật và kể về cháu của mình. Đức Thế Tôn dạy rằng: “Làm sao mà con có thể mong thỏa mãn nỗi người mà trước đây rất lâu Thầy đã không đáp ứng nỗi sự hoang phí của nó, ngay cả khi Thầy cho nó cái Tách Như Ý?” Ngày trước, Đức Phật sinh làm con trong một gia đình thương gia giàu có. Sau khi cha qua đời, ông thay thế địa vị của cha. Ngôi nhà của ông chôn dấu một kho tàng trị giá 400.000.000 (bốn trăm triệu) lượng vàng. Ông chỉ có một người con trai duy nhất. Đức Phật đã bố thí và làm điều tốt cho đến khi ông qua đời. Sau đó ông được sinh ra làm Ngọc Hoàng Thượng Đế, vua của các vị tiên. Con trai của ông dựng một cái lều bên kia đường, và thường hay cùng bạn bè nhậu nhẹt. Anh ta trả đến cả ngàn lượng vàng cho ca sĩ và vũ công, và giết thì giờ với cuộc sống đồi trụy ăn uống hội tiệc. Ông lang thang, tìm kiếm ca nhạc, múa hát, phục vụ những người bạn ăn bám của mình, và chìm đắm trong sự lười biếng. Vì vậy, chẳng bao lâu, ông đã tiêu hết tất cả tài sản 400 triệu được thừa kế: tiền vàng, nhà cửa, ruộng đất, hàng hoá, và vật dụng trong nhà. Ông trở nên nghèo khó, khốn khổ ăn mặc rách rưới tả tơi. Ngọc Hoàng, khi nhập thiền, biết được con trai mình nghèo đến thế nào. Vì tình thương bao la dành cho con, Ngài đã cho anh cái Tách Như Ý, và dặn: “Này con, hãy cẩn thận và không nên làm vỡ cái tách này. Miễn là còn nó, thì con sẽ luôn luôn giàu có. Vì vậy, con hãy chăm sóc nó cẩn thận” rồi ngài về trời trở lại. Sau đó, người đàn ông đã không làm gì ngoài việc dùng nó để nhậu. Một ngày nọ, ông say rượu, và ném cái ly lên không trung, rồi cố chụp lấy nó. Nhưng ông ta chụp hụt. Cái ly rơi xuống đất, và vỡ tan tành! Từ đó, ông nghèo khó trở lại, áo quần rách rưới tả tơi, lê lết ăn xin cho đến cuối cùng, ông chết bên cạnh một bức tường. Đức Phật giải thích rằng người con trai ngu ngốc đó sau này sinh làm cháu trai của Anāthapindika. Đôi khi, để lại tài sản thừa kế không giúp ích gì cho những người không khôn ngoan. Tốt hơn là nên truyền đạt trí huệ và giúp họ gieo phước, đặc biệt là loại phước vô lậu của Đại Thừa. |
AuthorWrite something about yourself. No need to be fancy, just an overview. Archives
January 2014
Categories |




RSS Feed